Sunday, December 31, 2000

Rau cải bắp

Bắp cải hay cải bắp (Brassica oleracea nhóm Capitata) là một loại rau chủ lực trong họ Cải (còn gọi là họ Thập tự - Brassicaceae/Cruciferae), phát sinh từ vùng Địa Trung Hải. Nó là cây thân thảo, sống hai năm, và là một thực vật có hoa thuộc nhóm hai lá mầm với các lá tạo thành một cụm đặc hình gần như hình cầu đặc trưng.

Cải bắp được trồng trong vụ đông xuân ở các tỉnh phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Cải bắp thuộc nhóm rau có nguồn gốc ôn đới, nhiệt độ xuân hóa (nhiệt độ cần thiết để phân hóa mầm hoa) là 1 - 100C trong khoảng 15 - 30 ngày tùy thời gian sinh trưởng của giống.

Thành phần hóa học trong 100g chứa: lipid 0,8g, chất xơ 1,7g, dẫn xuất phi protein 4,9g, khoáng toàn phần 2,4g.

Về mặt dinh dưỡng, trong 100g cải bắp cung cấp cho cơ thể 50calo, nhiều muối khoáng, nhất là canxi, photpho, kali, sắt. Lượng vitamin C trong bắp cải chỉ thua cà chua, nhưng nhiều gấp 4,5 lần so với cà rốt, 3,6 lần so với khoai tây, hành tây.

Trong bắp cải, vitamin C kết hợp sẵn với vitamin P thành phức hợp PC và vitamin C được vitamin P bảo vệ khỏi bị oxy hóa để cho giá trị sinh học cao hơn thuốc vitamin C.

Những lợi ích

Nước cải bắp giúp khỏe dạ dày: vào năm 1948, các nhà khoa học đã phát hiện trong cải bắp có một chất chống loét gọi là vitamin U, giúp chữa loét dạ dày - tá tràng, viêm dạ dày - ruột, viêm đại tràng. Do vitamin U bị hủy ở nhiệt độ cao, nên dùng nước ép cải bắp tươi nếu muốn phát huy tác dụng này. Một ký lá cải bắp tươi sẽ cho 500 - 700ml nước ép, nếu giã tươi lấy nước cốt thì được 350 - 500ml. Dùng nước ép hoặc nước cốt cải bắp uống trong ngày với liều 1.000ml, chia làm 4 - 5 lần (có thể pha thêm đường hay muối, dùng nóng hay lạnh). Điều trị liền trong vòng 2 tháng, sẽ có kết quả rõ rệt đối với bệnh nhân có ổ loét chưa sâu lắm. Các loại cải khác như cải rổ (var.viridis L), cải bẹ dúng (var.sabauda.), súp lơ, cải hoa (var.botrytis L)… đều có tác dụngchữa bệnh như cải bắp.

Qua nội soi, các chuyên gia Ấn Độ đã chứng minh được sự hình thành một lớp màng nhầy có 2 chức năng vừa che chở, vừa tái tạo niêm mạc dạ dày dưới tác dụng của bắp cải. Ngoài ra, họ đã xác định được một hoạt chất có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày. Hoạt chất này chỉ có trong bắp cải tươi và hàm lượng cao khi còn tươi xanh và thu hái vào mùa xuân hay mùa hè, hầu như mất tác dụng vào mùa đông...

Theo kinh nghiệm dân gian, tác dụng nước ép bắp cải sẽ được gia tăng gấp bội nếu dùng hòa chung với nước ép rau cần tây. Trong nhân dân thường muối dưa bắp cải với rau cần ta cũng là một kinh nghiệm tốt.

Tác dụng của bắp cải đối với bệnh ung thư: một số công trình nghiên cứu của Viện đại học New York cho thấy ăn bắp cải thường xuyên giúp ít bị ung thư đường tiêu hóa. Tất cả các loại cải đều có tác dụng phòng chống ung thư, nhưng rõ rệt nhất được xác định là bắp cải. Nếu ăn 1 tuần 1 lần bắp cải giảm 70% xác suất bị ung thư ruột. Nếu 2 tuần 1 lần sẽ giảm được 40%. Công trình nghiên cứu tác dụng chống ung thư của bắp cải do GS. Wattemberg ở Viện đại học Minnesota cũng cho thấy: Chiết xuất từ bắp cải được một nhóm hoạt chất là indol. Qua thực nghiệm trên súc vật cho thấy, chất này làm giảm tỉ lệ ung thư vú chỉ còn 1,5 so với lô đối chứng. Liều rất thấp cũng có thể bảo vệ 1/2 so với súc vật thí nghiệm.

Thú vị hơn là loại bắp cải tím (sở dĩ có màu tím là vì trong nó chứa hàm lượng polyphenol anthocyanin cao; chất anthocyanin có tính kháng viêm nên giúp cơ thể tránh được hiện tượng lão hóa sớm), nên giúp da đàn hồi, mềm mại do đó ăn bắp cải tím chứa hàm lượng chất chống oxy hóa cao giúp đem lại làn da đẹp, đàn hồi và mềm mại. Bắp cải tím còn là nguồn phong phú vitamin C và vitamin K.

Một số bài thuốc dùng cải bắp

Giảm đau nhức do thấp khớp, thống phong, đau dây thần kinh tọa: ép cải bắp lấy nước uống, còn bã đắp vào chỗ đau nhức.

Chữa đái tháo đường: cải bắp có tác dụng làm giảm quá trình đồng hóa glucid và giảm đường huyết. Dùng 100g hàng ngày giúp phòng và trị bệnh tiểu đường týp 2.

Kháng sinh: nước ép cải bắp có thể chữa viêm họng, viêm phế quản, khản tiếng, phòng chống nhiễm khuẩn, nhiễm nấm ngoài da. Đắp bắp cải ngoài da có thể chữa mụn nhọt và vết sâu bọ đốt.

Chữa đau khớp, nhức tay chân, nổi hạch: lấy lá bắp cải cán dập gân lá, hơ nóng rồi áp lên chỗ đau. Mỗi chỗ đau đắp 3 - 4 miếng lá cải bắp, bên ngoài dùng vải dày áp lên rồi cột lại.

Chữa ho nhiều đờm: dùng 80 - 100g cải bắp, nửa lít nước, sắc còn 1/3 cho thêm mật ong uống trong ngày kết hợp ăn bắp cải sống.

Cách làm nước ép bắp cải như sau: bóc từng lá bắp cải lấy cả lá xanh bên ngoài, rửa nhiều lần cho sạch, rọc đôi theo sống từng lá. Chần qua với nước sôi. Vớt ra để ráo nước. Cho vào cối sạch, giã nát, lấy vải màn hay gạc sạch lọc lấy nước. 1kg bắp cải có thể ép được khoảng 500ml nước.

Lưu ý: Với bắp cải, không dùng cho người tạng hàn, nếu muốn dùng phải phối hợp với gừng tươi. Cải bắp chứa một hàm lượng nhỏ Goitrin là chất có tác dụng chống oxy hóa nhưng chính nó lại có thể gây bướu cổ. Vì vậy, người bị rối loạn tuyến giáp hoặc bướu cổ không ăn bắp cải vì sẽ làm tuyến giáp hoặc bướu cổ phù to ra. Nếu cần chỉ ăn một lượng vừa phải, trước khi ăn nên cắt từng lá, ngâm rửa rồi thái nhỏ, để 10 - 15 phút rồi mới chế biến, khi ấy Goitrin sẽ bị phân hủy hết.

Những người suy thận nặng, phải chạy thận nhân tạo cũng không dùng bắp cải. Người táo bón, tiểu ít thì không ăn bắp cải sống hoặc dưa bắp cải muối mà phải nấu chín.

ăn bắp cải tím chứa hàm lượng chất chống oxy hóa cao giúp đem lại làn da đẹp, đàn hồi và mềm mại

Nếu ăn 1 tuần 1 lần bắp cải giảm 70% xác suất bị ung thư ruột

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Chữa ho do lạnh với cúc vạn thọ

Cúc vạn thọ còn có tên là xú phù dung, kim hoa cúc, kim kê cúc, cúc vạn thọ kép… Là cây thảo mọc đứng, cao 0,6 - 1m, phân nhánh thành bụi có cành nằm trải ra. Lá xẻ sâu hình lông chim, các thùy hẹp, dài, nhọn, khía răng cưa. Đầu hoa tỏa tròn, rộng 3 - 4cm hay hơn, mọc đơn độc hay tụ họp thành ngù; lá bắc của bao chung hàn liền với nhau; hoa màu vàng hay vàng cam, mào lông gồm 6 - 7 vẩy rời nhau hoặc hàn liền nhau.

Hoa ở phía ngoài hình lưỡi nhỏ xòe ra, hoa ở phía trong hình ống và nhỏ. Quả bế có 1 - 2 vẩy ngắn. Cây được trồng bằng cách giâm cành hay gieo hạt nơi đất ẩm và nhiều ánh sáng. Cây ra hoa vào mùa đông cho tới mùa hạ. Người ta thu hái hoa vào mùa xuân, hè, phơi khô ngoài nắng. Thu hái lá quanh năm, thường dùng tươi.

Theo Đông y, cúc vạn thọ có vị đắng, mùi thơm, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, long đờm, trị ho. Thường dùng trị bệnh đường hô hấp, đau mắt (viêm kết mạc); ho gà, viêm khí quản; viêm miệng, viêm hầu, đau răng. Liều dùng 10 - 15g, dạng thuốc sắc.

Cúc vạn thọ vị đắng, mùi thơm, tính mát có tấc dụng thanh nhiệt, giải độc, trị ho. Ảnh minh họa

Dùng trong:

Bài 1: Hỗ trợ điều trị hen phế quản: Cúc vạn thọ 20g, rau cần trôi, củ tầm sét, thài lài tía, nhân trần, rễ bạch đồng nữ, tinh tre mỡ mỗi thứ 10g thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm 2 lần trong ngày. Dùng 3 - 5 ngày.

Bài 2: Bổ dưỡng, tăng cường thị lực: Hoa cúc vạn thọ 20g, gan gà 50g băm nhỏ nấu ăn. 10 ngày là một liệu trình.

Bài 3: Chữa ho do lạnh: Hoa cúc vạn thọ 20g, hoa đu đủ đực 10g, húng chanh 10g, đường phèn 20g. Tất cả dùng tươi rửa sạch giã nhỏ cho vào bát cùng đường phèn. Hấp cách thủy trong 10 - 15 phút. Để nguội nghiền nát, thêm nước gạn uống làm 2 - 3 lần trong ngày. Dùng 3 - 5 ngày.

Bài 4: Chữa viêm kết mạc: Cúc vạn thọ 15g sắc lấy nước uống. Dùng 3-5 ngày.

Dùng ngoài khi mụn nhọt chưa vỡ:

Lá cúc vạn thọ 10g, lá táo ta 15g, muối ăn 10 hạt. Rửa sạch, giã nhỏ, đắp vào nơi đau. Ngày thay một lần.

Ngoài ra, tinh dầu cất từ hoa cúc vạn thọ có màu vàng đỏ từ thân và lá có màu vàng lục được gọi là dầu Tagetes mùi thơm hắc được dùng trong ngành hương liệu.

Bác sĩ Hữu Nam




Củ ấu trị cảm sốt

Củ ấu tên khoa học Trapa bicornis L- Hydrocaryaceae, họ củ ấu Trapaceae, còn gọi là ấu trụi, ấu nước, kỵ thực, hạt dẻ nước, năng thực (Trung Quốc). Là loại thực vật thủy sinh sống dưới nước, mọc trong ao đầm, thân ngắn có lông. Quả thường gọi là củ có hai sừng, quả cao 35mm, rộng 5cm, sừng dài 2cm, đầu sừng hình mũi tên, sừng do các lá đài phát triển thành. Trong củ chứa một hạt ăn được, có vị ngọt mát, bùi, giàu dinh dưỡng. Củ ấu có 4 loại là ấu đỏ, ấu 2 sừng, ấu 3 sừng và ấu 4 sừng.

Cây củ ấu được trồng ở các ao đầm khắp nơi trong nước ta. Trồng bằng hạt hay bằng chồi. Mùa hoa (ở miền Bắc) vào tháng 5 - 6; mùa quả vào các tháng 7 - 9. Quả cũng để ăn, vỏ quả và toàn cây dùng làm thuốc. Dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô.

Thành phần hóa học: Trong hạt ấu có tinh bột chừng 49% và chừng 10,3% protid. Các chất khác chưa thấy nghiên cứu. Theo tài liệu Trung Quốc, trong 100g củ ấu chín có 4,5g albumin, 0,1g chất béo, 19,7g chất đường các loại, 0,19g vitamin B1, 0,06g B2, 1,5mg PP, 13mg C, 7mg Ca, 0,7mg sắt, 19mg Mn, 93mg P. Chất AH13 là chất chiết ung thư gan được dùng hỗ trợ điều trị chống ung thư.

Củ ấu.

Theo Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, củ ấu vị ngọt chát, tính bình. Công dụng thoát tả, giải độc, tiêu thũng. Dùng chữa tiêu chảy, kiết lỵ, đại tiện ra máu, bệnh dạ dày. Mỗi lần dùng 30-60g sắc uống. Củ ấu đốt tồn tính, tán bột trộn dầu vừng bôi chữa trĩ, mụn nước, viêm nhiễm ngoài da; nấu vỏ lấy nước rửa hậu môn chữa sa trực tràng (lòi dom).

Công dụng và liều dùng: Củ ấu chủ yếu được nhân dân dùng luộc ăn hoặc chế biến thành bột trộn với mật hay đường làm bánh. Quả sao cháy dùng chữa nhức đầu, choáng váng và cảm sốt. Ngày dùng 3-4 quả dưới dạng thuốc sắc. Vỏ quả sao cho thơm, sắc uống chữa sốt, chữa mệt nhọc khi bị sốt rét, còn dùng chữa loét dạ dày, loét cổ tử cung. Toàn cây chữa trẻ con sài đầu, giải độc rượu, làm cho sáng mắt. Ngày dùng từ 10-16g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng. Cần lưu ý, tuy củ ấu là vị thuốc, ăn ngon, nhưng ăn nhiều sẽ gây trệ khí, do đó những người có u cục ở ngực bụng không dùng.

Dưới đây là một số cách trị bệnh từ cây, củ ấu:

- Chữa nhức đầu, choáng váng, cảm sốt: lấy 3 - 4 củ ấu sao cháy, sắc uống, ngày 1 thang.

- Sốt, sốt rét, loét dạ dày: vỏ củ ấu sao thơm, sắc uống.

- Giải độc rượu, làm sáng mắt, chữa sài đầu trẻ: lấy 10-16g toàn cây, sắc uống.

- Rôm sảy, da khô sạm: dùng củ ấu tươi, giã nát, xoa lên da.

- Viêm loét dạ dày: thịt củ ấu 30g, củ mài 15g, hồng táo 15g, bạch cập 10g, gạo nếp 100g, nấu cháo, cho thêm 20g mật ong, trộn đều ăn.

- Hư nhược phiền khát: thịt củ ấu tươi 50g, địa cốt bì 15g, câu kỷ tử 6g, hoàng cầm 6g, cam thảo chế 6g. Sắc uống.

- Trị say rượu: thịt củ ấu tươi 250g, nhai nuốt.

- Trị tỳ vị hư nhược: thịt củ ấu 50g, bạch truật 15g, hồng táo 15g, sơn tra 10g, sơn dược 15g, màng mề gà 6g, cam thảo chế 3g. Sắc uống.

- Trị đại tiện ra máu: vỏ củ ấu 60g, địa du 15g, tiêu sơn căn 6g, ô mai 10g, cam thảo chế 6g. Sắc uống.

- Trị bệnh trĩ, nhọt nước: vỏ củ ấu sấy khô, đốt tồn tính, tán bột, trộn đều với dầu vừng, bôi hoặc đắp.

BS. HOÀNG XU N ĐẠI

Trần bì

Trần bì là vị thuốc phổ biến trong y học cổ truyền, có mùi thơm, vị cay, đắng, tính ấm, tác dụng điều hòa khí huyết, tiêu đờm, kiện tỳ. Thường dùng chữa đầy bụng, khó tiêu, ợ hơi, ho có đờm, kém ăn, nôn mửa, tiêu chảy…

Để có vị thuốc trần bì, đến mùa quýt chín người ta hái quả về, khía vỏ quả làm 3 - 4 mảnh sát đến cuống, ăn múi rồi xâu vỏ vào dây lạt, phơi thoáng gió hoặc sấy nhẹ cho khô. Không nên treo gác bếp làm trần bì bị mất tinh dầu và dễ bẩn. Dược liệu có mặt ngoài màu vàng đỏ hoặc nâu đỏ, có đường nhăn và điểm lõm nhỏ hình tròn, đem ra ánh sáng thấy có điểm lõm nhỏ nhưng không rõ lắm. Mềm nhưng khô thì giòn, dễ bẻ gẫy, chỗ gẫy không bằng phẳng. Càng để lâu càng tốt.

Trần bì - Vị thuốc nên có trong nhà

Trần bì.

Xin giới thiệu một số bài thuốc chữa bệnh từ trần bì để bạn đọc tham khảo:

Bài 1: Chữa đầy bụng khó tiêu: Xé vài miếng trần bì, rửa qua nước ấm cho sạch, bỏ vào cốc nước sôi, hãm trong 15 - 20 phút là có thể dùng được. Chú ý chỉ uống nước lúc còn đang nóng, bỏ bã.

Bài 2: Trị tiêu hóa rối loạn do ăn uống, không tiêu: Trần bì, thương truật, hậu phác, sinh khương, mỗi vị 10g; thảo quả (nướng) 6g, cam thảo 4g, đại táo 3 quả. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng khoảng 5 ngày.

Bài 3: Hỗ trợ điều trị suy nhược cơ thể, kém ăn: Trần bì 3g, hồ tiêu 3g, riềng 6g, gà trống 1 con khoảng 1kg. Cách làm: Gà làm sạch, chặt miếng nhỏ; các vị thuốc cho vào túi vải xô. Cho tất cả vào nồi, thêm nước, gia vị, đun nhỏ lửa, hầm nhừ, chia 2 - 3 lần, ăn trong ngày. Tuần ăn 2 - 3 lần.

Bài 4: Trị ho viêm họng, viêm phế quản nhẹ: Trần bì 6g, cát cánh 6g, tô diệp 6g, cam thảo 4g, sắc uống trong ngày.

Bài 5: Trị ho mất tiếng: Trần bì 12g, sắc với 200ml nước còn 100ml thêm đường đủ ngọt, chia uống nhiều lần trong ngày.

Bài 6: Trị ho có đờm (do cảm hàn): Trần bì 6g, bạch linh 12g, khương bán hạ 6g, cam thảo 4g, gừng tươi 2 lát, sắc uống ngày 1 thang.

Bài 7: Hỗ trợ điều trị viêm loét dạ dày - tá tràng: Trần bì 20g, hương phụ (sao dấm) 15g, thịt gà 100g. Sắc trần bì, hương phụ (lấy nước bỏ bã), kho với thịt gà đã rửa sạch, thái lát cho đến khi cạn nước, cho thêm gừng tươi (đập vụn), hành, gia vị, đảo đều.

Hoặc: Trần bì 15 - 20g, gạo tẻ 150g. Sắc hoặc hãm trần bì lấy nước, đem nước sắc được nấu với gạo thành cháo, khi ăn thêm chút đường, muối gia vị, tùy theo khẩu vị. Dùng cho người bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng, trướng bụng đầy hơi, đau vùng thượng vị, buồn nôn...

Chú ý: Những người ho khan, âm hư không có đờm không nên dùng.

Lương y Nguyễn Văn Quyết

Chữa ho do lạnh với cây hà diệp liên

Cây hà diệp liên còn có tên là hạn hà thảo, sen cạn (lá nhìn hơi giống lá sen). Là một loại cây thảo mọc leo hoặc không leo, sống hàng năm. Lá có cuống dài đính ở giữa phiến lá tròn, mép nguyên, mặt trên màu lục nhạt, mặt dưới trắng mốc. Hoa mọc ở nách lá, màu vàng, vàng cam hay đỏ, 5 cánh hoa không bằng nhau. Quả lớn, chứa 3 hạt. Hà diệp liên được trồng nhiều nơi để làm cảnh, làm rau ăn và làm thuốc. Cây được trồng ở vườn, dọc hàng rào. Hoa nở vào tháng 5 - 9. Nhiều địa phương bà con lấy lá non ăn sống hoặc nấu súp với khoai tây. Nụ hoa và quả xanh dùng ngâm giấm làm gia vị, có mùi vị như rau cải xoong, ăn rất ngon miệng.

Bộ phận làm thuốc là toàn cây, có thể thu hái quanh năm.

Hoa hà diệp liên làm rau gia vị.

Hoa hà diệp liên làm rau gia vị.

Một số bài thuốc thường dùng

Bài 1: Chữa tiểu tiện khó khăn: Lá hà diệp liên 20 - 30g, sắc với 500ml nước, còn lại 200ml, chia 2 lần uống trong ngày, sau khi ăn từ 2 giờ. Có thể dùng nước sắc này để súc miệng giúp bảo vệ chân răng được chắc hơn.

Bài 2: Chữa chứng rụng tóc: Hoa hà diệp liên 100g, hạt tươi 100g, rửa sạch cho vào ấm đổ 1000ml nước, sắc còn 300ml. Lấy nước thuốc đã sắc xoa vào tóc ngày 1 lần giúp cho tóc mọc nhanh hơn.

Bài 3: Chữa ho do lạnh: Lá hà diệp liên tươi 20 - 30g hoặc hạt hà diệp liên 2 - 3g, giã nhỏ, hãm với 100ml nước sôi trong 5 - 10 phút. Chia 2 - 3 lần uống sau bữa ăn. Có thể thêm ít đường hoặc chất thơm cho dễ uống.

Bài 4: Chữa táo bón: Quả hà diệp liên đã chín, phơi khô 0,6 - 1g nghiền thành bột, trộn với đường hoặc mật ong, uống trước khi đi ngủ. Có thể dùng quả tươi nghiền nát, lấy 1 - 3 thìa cà phê nước quả, thêm để uống. 10 ngày một liệu trình.

Bài 5: Chống viêm chân răng, giúp chân răng được chắc khỏe: Lá hà diệp liên một nắm sắc với 500ml nước, còn lại 200ml, chia 2 lần để súc miệng sáng tối trước khi đi ngủ.

Chú ý: Hà diệp liên có thể gây kích ứng trên niêm mạc dạ dày, người viêm loét dạ dày cần thận trọng khi dùng. Để bài thuốc đem lại hiệu quả cần được bắt mạch kê đơn.

Bác sĩ Trần Thị Hải




Đậu nành

Mãn kinh là thay đổi tự nhiên trong cơ thể người phụ nữ, thường xảy ra vào khoảng 45 - 55 tuổi. Đây chính là lúc các nội tiết tố điều hòa hoạt động trong cơ thể người phụ nữ bị thiếu hụt trầm trọng do buồng trứng không còn rụng trứng. Tuy nhiên, một chế độ dinh dưỡng tốt có thể giúp ngăn ngừa hoặc làm giảm quá trình lão hóa trong thời kỳ mãn kinh một cách đáng kể.

Sự thiếu hụt nội tiết tố, trong đó estrogen đóng vai trò rất quan trọng, gây ra nhiều thay đổi bất lợi về cả cơ thể lẫn tâm - sinh lý trong thời kỳ mãn kinh, đặc biệt trong giai đoạn “chuyển tiếp”. Thiếu hụt estrogen làm cho phụ nữ mãn kinh hay bị nóng bừng mặt (cơn “bốc hỏa”), thường đổ mồ hôi đêm nhiều, căng thẳng và dễ cáu gắt. Mặt khác, phụ nữ mãn kinh thường bị khô âm đạo và giảm hứng thú “chuyện gối chăn”. Sự thiếu hụt estrogen làm cho hệ thống xương của người phụ nữ mãn kinh dễ bị gãy do hiện tượng mất calcium dẫn đến xương “xốp” hơn; đồng thời thiếu hụt estrogen còn có thể làm gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch.

Đậu nành - Thực phẩm tốt cho phụ nữ tuổi mãn kinh

Phụ nữ mãn kinh thường phải đối mặt với loãng xương.

Liệu pháp nội tiết thay thế chưa phải lý tưởng

Để cải thiện các khó chịu trong thời kỳ mãn kinh và giảm nguy cơ các tình trạng bệnh lý, nhiều phụ nữ đã chọn biện pháp điều trị bằng nội tiết để bù đắp lại sự thiếu hụt các nội tiết tố của buồng trứng, đặc biệt là estrogen. Biện pháp điều trị nội tiết thay thế này được chứng minh là rất hữu hiệu trong việc làm giảm các khó chịu thường gặp trong thời kỳ mãn kinh như bốc hỏa, đổ mồ hôi đêm, thay đổi tính tình hay khô âm đạo, cũng như giảm các nguy cơ của tình trạng loãng xương và các bệnh lý tim mạch. Nguy cơ gãy xương trong thời kỳ mãn kinh của nhóm phụ nữ được sử dụng nội tiết thay thế giảm từ 35-60%. Tuy vậy, bên cạnh việc tốn kém, nếu không có chế độ theo dõi phù hợp, điều trị nội tiết thay thế có thể làm gia tăng nguy cơ ung thư vú trong thời kỳ mãn kinh.

Lợi ích của đậu nành

Trong khi đó, phụ nữ tại một số nước châu Á, đặc biệt là tại Nhật Bản không gặp nhiều khó chịu trong thời kỳ mãn kinh so với các nước Bắc Mỹ hay châu u. Nhật Bản thậm chí không có từ ngữ mô tả tình trạng bốc hỏa, là khó chịu thường gặp nhất trong giai đoạn mãn kinh. Nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy, một trong những lý do chính của hiện tượng này là do nhiều phụ nữ Nhật Bản sử dụng đậu nành như một thực phẩm hằng ngày và đậu nành đã góp phần cung cấp estrogen để tiếp tục điều hòa hoạt động của cơ thể. Đậu nành là một trong những thực phẩm giàu chất isoflavones, chính là một dạng nội tiết tố estrogen thực vật. Isoflavones có chức năng tương tự estrogen của người phụ nữ nhưng tác dụng yếu hơn. Nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận nồng độ isoflavones (trong nước tiểu) của phụ nữ Nhật Bản cao hơn phụ nữ Hoa Kỳ hoặc Phần Lan từ 100 đến 1.000 lần.

Đậu nành - Thực phẩm tốt cho phụ nữ tuổi mãn kinh

Đậu nành cung cấp isoflavones làm giảm những khó chịu và giảm những nguy cơ bệnh lý trong thời kỳ mãn kinh của phụ nữ.

Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới khẳng định hiệu quả của đậu nành trong việc làm giảm các khó chịu trong thời kỳ mãn kinh. Một nhóm bác sĩ người Ý nhận thấy, tần suất những cơn bốc hỏa giảm đến 45% trong nhóm phụ nữ mãn kinh được sử dụng 60g đậu nành hằng ngày (tương đương 76mg isoflavones) trong suốt 12 tuần. Chế độ ăn giàu đậu nành có thể giúp làm ổn định huyết áp và giảm các khó chịu của thời kỳ mãn kinh mà không kèm với các tác dụng phụ có thể gặp phải khi sử dụng điều trị nội tiết thay thế. Đậu nành còn giúp gia tăng hấp thu calcium vào xương và ngăn quá trình loãng xương, từ đó làm giảm nguy cơ gãy xương. Khi sử dụng chế độ ăn giàu đậu nành trong 12 tuần, các nhà nghiên cứu Úc lại ghi nhận mật độ xương gia tăng 5,2%. Nếu chế độ ăn này kéo dài đến 6 tháng, mật độ xương của phụ nữ mãn kinh được gia tăng rất đáng kể. Tuy vậy, vấn đề về tỉ lệ đậu nành trong chế độ ăn phải đạt đến mức độ nào mới có hiệu quả vẫn chưa có câu trả lời thích hợp.

Như vậy ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy đậu nành có thể làm giảm những khó chịu và giảm những nguy cơ bệnh lý trong thời kỳ mãn kinh vốn là một thời kỳ khá “khó khăn” đối với nhiều phụ nữ. Đậu nành cung cấp isoflavones là một loại estrogen thực vật cho cơ thể người phụ nữ mãn kinh vốn rất thiếu hụt estrogen do buồng trứng không còn hoạt động. Chế độ ăn giàu đậu nành là một khuyến cáo dễ thực hiện, ít tốn kém và có thể đem lại nhiều lợi ích bên cạnh việc làm giảm tình trạng khó chịu của giai đoạn mãn kinh.

TS.BS. Trần Sơn Thạch

Ổn định huyết áp từ rễ cây nhàu

và một số tỉnh miền Trung. Và trong đông y, rễ cây nhàu còn được bào chế làm vị thuốc giúp ổn định huyết áp.

Theo nghiên cứu, quả nhàu có chứa prosertonin nhiều gấp 40 lần so với quả dứa. Khi chất này kết hợp với một enzym nội bào sinh ra xeronin có khả năng giúp tế bào tự sửa chữa và tái tạo.

Trong quả nhàu có chứa nhiều tinh bột, chất xơ, nhiều vitamin A, E, B1, B6, B12, niacin B3, đặc biệt là vitamin C; nhiều khoáng tố như: Fe, Ca, K, Na… Có tác dụng nhuận tràng, làm thuốc điều kinh, trị băng huyết, bạch đới, ho cảm, hen, phù thũng, đau gân, đái tháo đường, chữa lỵ, hỗ trợ miễn dịch, chống viêm. Lá nhàu có tác dụng hạ sốt, điều hòa kinh nguyệt, giã nát đắp chữa mụn nhọt, mau lên da non hoặc sắc uống chữa đi lỵ và làm thuốc bổ. Vỏ cây nhàu dùng nấu nước cho phụ nữ sau khi sinh uống bổ máu.

Ổn định huyết áp từ rễ cây nhàu

Rễ nhàu giúp hạ huyết áp

Dân gian thường lấy quả nhàu gần chín rửa sạch, để ráo, xắt lát, trộn theo tỉ lệ 1kg nhàu với 200g đường cát. Sau 15 ngày ép lấy nước uống dần, mỗi bữa uống chừng 2 ly nhỏ, có tác dụng bồi bổ sức khỏe, điều hòa huyết áp, tăng cường khả năng miễn dịch, phục hồi các tế bào thương tổn, chống viêm nhiễm, giảm đau nhức cơ thể. Cách sử dụng đơn giản nhất là ăn quả nhàu chấm muối, rất tốt cho người bị táo bón.

Sau khi phân tích dược tính của rễ nhàu (chứa nhiều hợp chất thiên nhiên như lignin, pholysaccharide, flavonoid, irridoid, chất béo, scoppletin, catechin, betasitosterol, damnacanthal, alkaloid và nhiều khoáng tố vi lượng như trong dịch quả), giáo sư Caujolle - Giám đốc Trung Tâm khảo cứu Quốc gia Pháp về độc tính của các chất, giáo sư Youngken thuộc Trường Đại học Dược khoa Massachusette, giáo sư Ikeda thuộc Trung Tâm Nghiên cứu vệ sinh quốc gia của Nhật Bản đã thí nghiệm trên vật nuôi của phòng thí nghiệm và nhận thấy tinh chất rễ nhàu có dược tính sau:

- Có tác dụng nhuận trường nhẹ và lợi tiểu nhẹ.

- Làm êm dịu thần kinh.

- Hạ huyết áp kéo dài.

- Rất ít độc và không làm nghiện.

Sách “Gia y trị nghiệm” của lương y Việt Cúc có ghi “rễ nhàu vị đắng, ấm, thông huyết mạch, trừ phong tê nhức mỏi, hạ huyết áp”. Trên thực tế, khi dùng độc vị hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác, rễ nhàu có hai tác dụng đáng lưu ý là dưỡng tâm, an thần và thông kinh hoạt huyết.

Vào những năm 1980 - 1985, GS. Bùi Chí Hiếu và cộng sự tại Viện Y học dân tộc TP.HCM đã thử nghiệm lâm sàng bài thuốc hạ áp có rễ nhàu (16g), đã chứng minh tác dụng hạ áp rất tốt ở liều điều trị và ổn định huyết áp ở liều duy trì. Đặc biệt là với những người thường hay căng thẳng tâm lý, dễ bực bội, cáu gắt, khó ngủ khi dùng rễ nhàu cảm thấy tinh thần thoải mái, dễ ngủ.

Các chất dẫn anthraquinon (damnacathal, nordamnacathal…) là một trong những nhóm hoạt chất chính chiếm tỉ lệ cao trong rễ nhàu, thường được dùng phối hợp với những vị thuốc khác để chữa trị các chứng cao huyết áp do bất kỳ nguyên nhân nào.

Các hoạt chất trong rễ nhàu còn có khả năng chống oxy hóa tế bào, ngăn ngừa xơ cứng động mạch. Đồng thời, nó còn có tác dụng làm giãn mạch ngoại biên, giúp tăng lưu lượng máu nhờ đó góp phần làm hạ huyết áp.

Ổn định huyết áp từ rễ cây nhàu

Bài thuốc chữa cao huyết áp

Bài 1: rễ nhàu thái nhỏ, phơi khô, mỗi lần sử dụng 20 - 40g nấu đậm, uống thay nước cả ngày. Sau một đợt uống, kiểm tra lại, nếu huyết áp giảm, bớt lượng rễ nhàu từ từ và uống liên tục trên 2 tháng huyết áp sẽ ổn định.

Bài 2: rễ nhàu 20g, ngưu tất 10g, sinh địa hoặc thục địa 20g, mã đề 20g, hoa hòe 10g, trạch tả 10g, táo nhân 10g. Tất cả sắc trong 1 lít nước, đun cạn còn 300ml, chia 2 lần uống trong ngày.

Các bài thuốc khác có rễ nhàu:

Bài 1: chữa đau lưng nhức mỏi, tê bại: rễ nhàu chặt nhỏ phơi khô, sao vàng chừng 1/2kg ngâm với 2 lít rượu 45 độ trong nửa tháng, trước bữa ăn uống 1 ly nhỏ.

Bài 2: chữa phong thấp: rễ nhàu 20g, dây đau xương 20g, thổ phục linh 20g, rễ cỏ xước 20g, cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày1 thang, chia 2 - 3 lần uống trong ngày.

Bài 3: chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh, huyết áp cao: rễ nhàu 24g, thảo quyết minh (sao thơm) 12g, rau má 8g, thổ phục linh 8g, vỏ bưởi 6g, gừng củ 3 lát nấu cùng 1/2 lít nước, sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày, uống khi nóng.

Bài 4: chữa đau lưng do thận: rễ nhàu 12g, tầm gửi cây dâu 6g, rễ ngà voi 8g, ngũ trảo 12g. Cho 1/2 lít nước, sắc còn 250ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày.

Lưu ý: vì rễ nhàu có tác dụng hạ huyết áp, do đó bệnh nhân đang dùng thuốc hạ áp hoặc người bị viêm thận trước khi dùng nên hỏi ý kiến bác sĩ.

BS. NGÔ THỊ BÉ TƯ

Cây tề thái hạ sốt, cầm máu

Hỏi: Cây tề thái có ở nước ta không, nó chữa được bệnh gì? (Nguyễn Tiến Nam - Hà Nội) Trả lời: Cây tề thái còn gọi là tề, tề thái hoa, địa m...