Sunday, December 31, 2000

Kim ngân: Hoa đẹp giải nhiệt

Kim ngân hoa hay còn có tên gọi khác là nhẫn đông hoa. Sở dĩ có tên này vì cây không những có khả năng chịu đựng được mùa đông mà còn có thể phát triển xanh tốt vào giai đoạn thời tiết này (nhẫn đông nghĩa là chịu đựng mùa đông). Cây kim ngân khi ra hoa có điểm rất đặc biệt là những hoa ra sớm sẽ có màu trắng như bạc, sau đó một thời gian nở lâu dài các hoa này sẽ chuyển sang màu vàng, cho nên trên cùng một cây ta có thể thấy được 2 màu sắc hoa cùng hiện diện là hoa trắng và hoa vàng, vì thế cây được đặt tên là kim ngân (kim là vàng, ngân là bạc).

Mô tả cây

Kim ngân có tên khoa học là Lonicera japonica Thunb. Đây là loại cây mọc hoang ở nhiều tỉnh phía bắc nước ta, đặc biệt là các tỉnh miền núi như: Cao Bằng, Lạng Sơn. Ngày nay, cây đã được trồng phổ biến ở nhiều nơi để làm thuốc điều trị bệnh. Đây là một loại cây có thân dây mọc leo, thân cây có khả năng vươn dài tới 10m hoặc hơn. Cành cây lúc còn non có màu lục nhạt, phủ lông mịn, khi cành già chuyển sang màu nâu đỏ nhạt, nhẵn. Lá mọc đối hoặc vòng 3, hình trứng dài, đầu hơi tù, phía cuống tròn, cuống ngắn, cả 2 mặt lá đều phủ lông mịn. Bộ phận thường được thu hái là hoa, còn cành lá ít được sử dụng hơn vì tác dụng dược lý so với hoa không hiệu quả bằng. Người ta thường thu hái vào đầu mùa hạ những hoa có nụ mới nở còn màu trắng chưa chuyển vàng là tốt nhất.

Cây kim ngân có thể mọc xanh tốt quanh năm, lại cho hoa đẹp và thơm, nên cây còn có thể được sử dụng để làm cây cảnh trong vườn nhà, vừa có thể sử dụng như một vị thuốc có sẵn cho gia đình.

Những lợi ích

Theo Đông y, kim ngân hoa vị ngọt, tính hàn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trị sốt. Trong nhân gian thường sử dụng để chữa mụn nhọt, rôm sảy, thủy đậu, sởi, tả lỵ. Ngoài ra, đã có một số nghiên cứu cho thấy kim ngân có vai trò trong điều trị dị ứng, viêm mũi và thấp khớp. Liều thường dùng trong ngày từ 12 - 20g hoa khô.

Ngày nay, khi chiết xuất các thành phần có trong hoa kim ngân, người ta tìm thấy trong đó một số các chất có lợi trong việc phòng cũng như điều trị bệnh như flavonoid, saponin và các yếu tố khác có công dụng kháng khuẩn, kháng viêm, chống khối u, làm mau liền sẹo. Đồng thời, các chất hiện diện trong cây có khả năng chống lại quá trình oxy hóa của cơ thể, ngăn chặn quá trình lão hóa cũng như có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa các căn bệnh mạn tính.

Qua một số nghiên cứu về khả năng sử dụng kim ngân hoa như một loại kháng sinh thực vật, người ta đã thấy được công dụng hiệu quả của nó đối với việc đề kháng một số vi khuẩn như: trực khuẩn lỵ, dịch hạch, thương hàn, cận thương hàn, liên cầu khuẩn tan huyết và có tác dụng yếu hơn đối với các loại vi khuẩn khác như: E.coli, phế cầu, tụ cầu vàng, bạch hầu. Ngoài ra, nó còn có khả năng ức chế một số nấm ngoài da khá hiệu quả.

Kim ngân hoa có khả năng kháng viêm, giảm xuất tiết, hạ sốt, làm thanh mát cơ thể. Người xưa thường sử dụng kim ngân pha nước uống để giải nhiệt cơ thể, làm dịu mát trong những ngày thời tiết oi bức, hay cho trẻ em sử dụng để điều trị rôm sảy, mẩn ngứa.

Bài thuốc dùng kim ngân hoa

Kim ngân hoa có tác dụng thanh thấp nhiệt ở vị tràng, dùng để chữa trị kiết lỵ, có thể phối hợp với hoàng liên, rau sam. Hay dùng để lương huyết, cầm máu bằng cách đem kim ngân hoa sao vàng sém cạnh để trị chứng tiểu tiện ra máu.

Bên cạnh đó, các nhà lâm sàng còn thấy rằng sau khi sử dụng kim ngân hoa một thời gian có tác dụng làm hạ các cholesterol không có lợi trong cơ thể, đặc biệt là thành phần cholesterol trọng lượng phân tử thấp hay còn gọi là LDL-, yếu tố này nếu tăng nhiều trong hệ tuần hoàn sẽ dẫn tới những hệ quả bất lợi cho cơ thể, là nguyên nhân gây nguy cơ cao dẫn đến các căn bệnh mạn tính thường gặp như: xơ vữa động mạch, đái tháo đường, các tai biến trên mạch máu não và tim. Đồng thời, khi sử dụng nó còn làm cho cơ thể trở nên hưng phấn hơn, tạo cảm giác dễ chịu hơn, đặc biệt là khi thời tiết nắng nóng hoặc đối với những người có cơ địa thiên về nhiệt, hay đang mệt mỏi, nóng trong người.

Những đối tượng đang mắc bệnh cao huyết áp, rối loạn chuyển hóa mỡ máu có triệu chứng nóng bứt rứt trong người, hay nặng đầu, hoa mắt, chóng mặt, khô khát, ra mồ hôi nhiều có thể sử dụng phối hợp kim ngân hoa với các vị thuốc như: cúc hoa, sơn tra, mỗi vị 10g hãm với nước sôi uống thay trà hàng ngày cũng mang lại những hiệu quả tích cực.

Bài thuốc cổ Ngân kiều tán phối hợp kim ngân hoa với một số vị thuốc khác dùng để điều trị mụn nhọt, sốt, cảm rất hiệu quả: kim ngân hoa 40g, liên kiều 40g, kinh giới 16g, cát cánh 24g, đạm đậu xị 20g, bạc hà 24g, ngưu bàng tử 24g, trúc diệp 16g.

Bài thuốc cổ Bạch hổ quế chi thang được sử dụng trong việc điều trị các bệnh về viêm khớp đang có diễn biến cấp tính, đặc biệt là viêm khớp dạng thấp, bài thuốc phối hợp vị kim ngân hoa với các vị thuốc khác như: thạch cao 40g, kim ngân hoa 20g, quế chi 6g, tri mẫu 12g, hoàng bá 12g, thương truật 8g, tang chi 12g, ngạnh mễ 12g, cam thảo 8g.

Điều trị chứng mẩn ngứa, dị ứng có thể phối hợp các vị thuốc sau: kim ngân hoa 20g, thổ phục linh 6g, quyết minh tử sao 6g, sinh địa 8g, mạch môn 8g, hoàng đằng 8g, huyền sâm 10g, liên kiều 10g.

Cũng cần lưu ý rằng, vì kim ngân có tính chất hàn nhiều nên khi sử dụng với hàm lượng cao hoặc lâu dài sẽ khiến cho tình trạng nê trệ hệ thống tiêu hóa, gây ra các triệu chứng như: ăn uống không tiêu, đầy bụng, ợ hơi hoặc nặng hơn có thể dẫn tới tình trạng tiêu phân lỏng. Các nghiên cứu hiện nay cũng cho thấy rằng, hoa kim ngân không có độc tính nên ta có thể yên tâm phần nào khi có những biểu hiện của tác dụng phụ. Nếu có xuất hiện những triệu chứng trên, người dùng hãy ngưng sử dụng hoặc giảm liều lượng trong vài ngày thì các tình trạng đó sẽ không còn nữa.

BS. NGUYỄN KỲ XU N NHỊ

Lợi ích sức khỏe của vỏ quả lựu ít người biết

1. Tăng cường sức khỏe tim

Vỏ quả lựu giúp chống lại các bệnh về tim. Với nhiều chất chống oxy hóa, vỏ quả lựu loại bỏ các gốc tự do gây hại và bảo vệ tim.

2. Vệ sinh răng miệng

Vỏ quả lựu có thể giúp tránh hơi thở hôi. Chỉ cần nghiền vỏ quả lựu thành bột, trộn với nước và chà xát vào răng bạn còn có thể phòng viêm lợi và loét miệng.

Quả lựu

3. Cải thiện sức khỏe xương

Vỏ quả lựu có đặc tính kháng khuẩn và chống viêm giúp tăng cường sức khỏe xương, đặc biệt ở phụ nữ mãn kinh. Bạn có thể uống đồ pha chế từ vỏ quả lựu để tránh loãng xương và giảm mật độ xương.

4. Chữa ho và đau họng

Bột vỏ quả lựu là bài thuốc tại nhà tuyệt vời để trị loét họng và ho khan. Cho một ít bột vỏ quả lựu vào nước và làm ấm lên. Súc miệng bằng loại nước này để giảm đau họng.

5. Chống lão hóa

Nếu bạn muốn trẻ lâu, vỏ lựu là lựa chọn tốt nhất. Nó giúp ngăn ngừa các enzym phá vỡ collagen, từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng tế bào. Điều này giúp trì hoãn quá trình lão hóa.

6. Giảm nguy cơ ung thư

Vỏ lựu giàu chất chống oxy hóa nên có thể phòng ngừa ung thư. Nguy cơ ung thư da có thể giảm với sự trợ giúp của vỏ lựu. Nó cũng hoạt động như một chất chống nắng hiệu quả.

7. Khử độc

Vỏ quả lựu có tác dụng loại bỏ những độc tố tích tụ. Tác dụng này là nhờ sự hỗ trợ của các chất chống oxy hóa trong vỏ lựu.

8. Làm sạch mặt

Vỏ lựu là lựa chọn tuyệt vời giúp làm sạch mặt bằng cách chống mụn trứng cá. Phơi khô vỏ lựu, tán bột và bôi lên mặt sau khi trộn nước hoặc mật ong. Vỏ lựu chứa chất chống oxy hóa có thể giúp tránh xa vi khuẩn và các tác nhân gây nhiễm trùng khác

9. Ngăn ngừa gàu

Tán bột vỏ quả lựu, trộn với dầu dừa ấm. Bôi hỗn hợp này lên da đầu và để 15 phút. Gội đầu với nước lạnh. Bạn sẽ thấy tác dụng của hỗn hợp này.

BS Thu Vân

(Theo Boldsky)

Kinh giới chữa bệnh

Hỏi: Xin cho hỏi cây kinh giới được dùng làm thuốc chữa bệnh gì?

(Nguyễn Tiến Nam - Hà Nội)

Trả lời: Kinh giới còn gọi là kinh giới tuệ, giả to, khương giới.

Tên khoa học Schizonepeta tennifolia Briq.

Thuộc họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae).

Kinh giới (Herba Schizonepetae) là toàn cây kinh giới phơi hay sấy khô, gồm cả cành, củ hoa và lá. Cần chú ý ngay rằng vị kinh giới nói ở đây mới là vị kinh giới được giới thiệu trong các tài liệu cổ, trước vẫn nhập của Trung Quốc, ta chưa có. Ở nước ta nhân dân vẫn dùng một cây khác với tên kinh giới (xem phần mô tả cây này).

Mô tả cây

Kinh giới là một loại cỏ sống hàng năm, mùi rất thơm, cao 0,6 - 0,8m, thân vuông, phía gốc màu hơi tía, toàn cây có lông ngắn. Lá mọc đối, lá dưới gốc không có cuống hay gần như không có cuống, xẻ sâu thành 5 thùy, lá phía trên cũng không cuống, xẻ 3 - 5 thùy. Cụm hoa mọc thành bông gồm những hoa mọc vòng ở mỗi đốt. Bông hoa dài 3 - 5cm, hoa nhỏ màu tím nhạt. Quả hình trứng hay hình trái xoan, dài chừng 1mm, mặt bóng, màu nâu.

Cây kinh giới nhân dân ta vẫn trồng để ăn làm gia vị và làm thuốc đã được xác định là Elsholtzia cristata Willd, cùng họ. Cây cũng thuộc thảo, cao 0,3 - 0,45m, thân nhẵn, mọc thẳng đứng. Lá mọc đối, phiến lá thuôn nhọn dài 5 - 8cm, rộng 3cm, mép có răng cưa, cuống gầy dài 2 - 3cm . Hoa nhỏ không cuống, màu tím nhạt, mọc thành bông ở đầu cành rất mau. Quả gồm 4 hạch nhỏ, nhẵn, dài 0,5cm.

Một cây khác cũng được gọi là kinh giới và dùng làm thuốc là cây Origanum syriacum (Lour.) cùng họ.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây kinh giới (Schizonepeta tenuifolia) chưa thấy mọc ở Việt Nam. Ở nước ta chỉ mới thấy trồng loại kinh giới Elsholtzia cristata để ăn và làm thuốc. Vào mùa thu nhổ cả cây phơi hay sấy khô gọi là toàn kinh giới, nhưng có nơi chỉ cắt hoa và cành, nếu xắt hoa phơi khô gọi là kinh giới tuệ, nếu hái toàn cây trừ bỏ phần rễ thì gọi là kinh giới.

Kinh giới chữa bệnh

Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ kinh giới có vị cay, tính ôn, vào 2 kinh phế và can. Có tác dụng phát biểu khứ phong, lợi yết hầu, thanh nhiệt tán ứ phá kết. Dùng chữa ngoại cảm phát sốt, đầu nhức, mắt hoa, yết hầu sưng đau, đẻ xong huyết vận. Sao đen chữa thổ huyết máu cam, đại tiểu tiện ra máu.

Kinh giới được dùng trong nhân dân làm thuốc chữa cảm mạo, phát sốt, nhức đầu cổ họng sưng đau, nôn mửa, đổ máu cam, đi lỵ ra máu, băng huyết.

Liều dùng hàng ngày là 6 -12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột.

(Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

của GS. ĐỖ TẤT LỢi

Vị thuốc từ củ riềng

Riềng là một loại gia vị phổ biến cũng như gừng, tỏi, nghệ… Có 2 loại riêng: riềng thuốc hay cao hương khương, co khá (Thái), kim sung (Dao), cho thân rễ và quả chuyên dùng làm thuốc; riềng nếp hay là loại riềng thường, được bán ngoài chợ làm gia vị, hay riềng ấm, hậu khá (Thái), chi bộ (Mông) chỉ cho thân rễ làm gia vị và đôi khi dùng làm thuốc.

Riềng thuốc được dùng trong những trường hợp sau đây:

Chữa đầy bụng, lạnh bụng, nôn mửa: riềng thuốc, củ gấu, gừng khô, với lượng bằng nhau, phơi khô, thái nhỏ, tán bột và rây mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g.

Chữa tiêu chảy: riềng thuốc: 6g, vỏ quế: 4g, vỏ vối: 3g. Sắc với 200ml nước, uống làm một lần trong ngày. Hoặc riềng thuốc: 20g, nụ sim: 80g, vỏ rộp ổi: 60g, tán bột, rây mịn. Uống mỗi lần 5g ngày 3 lần.

Chữa nhiễm lạnh, ăn không tiêu, buồn nôn, đau bụng: quả riềng thuốc (hồng đậu khấu) tách vỏ, lấy hạt, 2 – 6g tán nhỏ dùng uống trong ngày.

Củ riềng

Củ riềng

Riềng nếp: được chế biến thành riềng muối chống khát nước, chữa ho, viêm họng, đau răng, đầy bụng. Củ riềng tươi (loại to và già) đem cạo sạch vỏ ngoài, ướp vào dung dịch nước muối 10% (10g muối ăn pha trong 100ml nước đun sôi để nguội) trong vài ngày rồi vớt ra, giã nhỏ, phơi khô hoặc sấy khô, rồi cho riềng vào nước quả chanh tươi, ngâm khoảng 10 – 15 phút, lại đem phơi hoặc sấy. Làm như vậy chừng 3 – 4 lần là được. Riềng muối có vị chua, mặn và cay dịu. Khi dùng, lấy một dúm cắn nhẹ dưới răng, ngậm và nuốt nước dần dần. Ngày ngậm 2 – 3 lần.

Cây và củ riềng nếp

Cây và củ riềng nếp

Lấy củ riềng nếp giã (100g) tán nhỏ, ngâm với cồn 90 độ (200 ml), càng lâu càng tốt. Ngày bôi vài lần để chữ hắc lào.

Ngọc Đức

Hành giải cảm, sát trùng…

Hành - Bulbus allii Fistulosi; chứa protid, saccharides, vitamin B1, B2, PP, Bêta-caroten, Ca, Fe, Mg…, nhất là vitamin C và P. Hành còn có axít malic, dầu béo, chất dính…, trong đó chứa các allyl sulphide (dầu hành) và allicin, có mùi thơm và cay ấm, giúp khử mùi tanh, nâng vị ngon tươi, cải thiện vị giác và thúc đẩy thèm ăn. Cũng như có công năng hưng phấn thần kinh, xúc tiến máu tuần hoàn.

Những lợi ích

Hành vị cay vừa, tính ấm, có tác dụng gây ra mồ hôi, giải cảm (phát hãn, giải biểu), trừ lạnh thông thoáng các kinh âm (tán hàn, thông âm), giải độc.

Hành chứa một loại tinh dầu mang tính kích thích, sản sinh mùi thơm đặc trưng, giúp tẩy trừ mùi tanh; béo ngậy trong các món ăn, còn có thể kích thích bài tiết dịch tiêu hóa, thúc đẩy thèm ăn.

Hành chứa prostaglandin A, có tác dụng làm giãn mao mạch, thúc đẩy máu tuần hoàn, trợ giúp phòng ngừa váng đầu do tăng huyết áp gây nên. Hành còn có tác dụng đảm bảo đại não linh hoạt cũng như dự phòng Alzheimer cho người cao tuổi.

Hành có tác dụng làm mềm mạch máu, giảm mỡ trong máu, chủ yếu dùng điều trợ hỗ trợ cho xơ cứng mạch máu.

Người thường xuyên ăn hành, cho dù dáng mập vạm vỡ, nhưng cholesterol không tăng cao, hơn nữa thân thể cường tráng.

Hành chứa nguyên tố vi lượng selenium, có thể giảm hàm lượng muối nitrat trong dịch vị, vì thế, có tác dụng nhất định đối với việc dự phòng ung thư dạ dày và nhiều loại ung thư khác.

Tinh dầu thơm chứa trong hành có tác dụng sát khuẩn mạnh. Nó có thể thông qua đường mồ hôi; hô hấp; hệ tiết niệu khi bài ra ngoài gây kích thích nhẹ các tuyến bài tiết, từ đó có tác dụng làm ra mồ hôi, tan đàm, lợi tiểu.

Dùng hành chữa bệnh:

Tiểu sót: đầu hành 0,5kg thái nhuyễn, phèn chua 12g tán mịn, trộn thành dạng sệt, đắp vào vùng rốn và bụng dưới, đắp gạc và phủ lên trên tấm nylon mỏng, xung quanh dán bằng băng keo.

Báng bụng: đầu hành 10 cọng, mang tiêu 10g, giã nhuyễn, đắp vào rốn, ngày 1 lần.

Tiểu khó sau khi sinh: đầu hành vừa đủ thái nhuyễn đem rang nóng, sau đó đắp vùng bụng dưới nhanh chóng. Thường thực hiện 1 lần thấy hiệu quả ngay.

Bí tiểu: hành tươi, cả củ 1 nắm (thân và đầu hành), giã nát, sau đó bỏ thêm nước đá giã nhuyễn. Để 1 khăn ướt vắt ráo nước lên vùng bàng quang, để hành và nước đá đã giã nhuyễn lên. Sau 5 phút đi tiểu được.

Tắc ruột do giun: đầu hành 10 cọng, dầu ăn 25ml, đầu hành sau khi băm nhuyễn, cả hai trộn đều, uống ngay.

Giúp tăng nội tiết tố (hoóc-môn): đầu hành vừa đủ, ép lấy nước, ngày uống 1 - 2 lần; hoặc nhai nuốt trong miệng, sau đó nhả bỏ bã, ngày 2 lần.

Sưng vú (viêm tuyến vú cấp tính): đầu hành 30g, dùng nước rửa sạch, sau khi thái nhỏ cho ngâm trong nước nóng vừa đủ, sau khi lấy hơi xông thì dùng rửa bên vú bị sưng, ngày 3 - 5 lần, 2 ngày là 1 liệu trình, thường thực hiện 2 - 5 liệu trình sẽ thấy hiệu quả. Phương pháp này rất thích hợp dùng cho người mới bị sưng vú. Cũng có thể dùng đầu hành 0,5kg, thêm mạch nha 50g, trước tiên dùng nước rửa riêng biệt, đầu hành băm nhuyễn lấy nước, chia uống 2 lần kèm với rượu trắng; có thể dùng mạch nha thêm 400ml nước, nấu còn 300ml, dùng rửa vú sưng lúc ấm.

Món ăn - bài thuốc từ hành

Đầu hành nấu đậu hủ: đầu hành (thông bạch) 120g, đậu hủ 150g, nấu chung, nêm ít rượu và gia vị, ăn liền vài lần, có tác dụng ích khí sinh tân (tạo năng lực, tạo thể dịch); trừ táo khu hàn, dùng điều trị các chứng cảm mạo thân yếu; trẻ cảm sốt; phù thũng…

Đầu hành xào thịt heo: đầu hành 100g, thịt nạc 50g. Thịt thái lát, xào với lửa mạnh, thêm đầu hành, tiếp tục xào giây lát, nêm gia vị, ăn liền vài lần, có tác dụng nhuận phế bổ vị, ích khí phát hãn, dùng chữa các chứng phát sốt ớn lạnh, thân thể suy nhược nhiễm lạnh; đau đầu không ra mồ hôi…

Cháo hành: hành 1 bó, thái nhuyễn, gạo 50g, nấu cháo, ăn liền 3 - 5 ngày, chữa lỵ ra máu bầm.

Nước nấu hành tỏi: đầu hành 30g, thêm 100ml; tỏi 30g, thêm 200ml, hai thứ nấu riêng, bỏ bã lấy nước, trộn lẫn (hay chỉ dùng một thứ) để bơm rửa hậu môn, trẻ 4 - 6 tuổi dùng 10ml nước thuốc, 7 - 10 tuổi dùng 15ml, trên 11 tuổi dùng 20ml để chữa giun.

Hành nhuyễn: hành cả bó, vừa đủ, băm nhuyễn, trộn với dấm rang nóng, đắp tại chỗ, dùng chữa ung nhọt sưng đau.

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc thì tiêu thụ thức ăn chứa nhiều hành tỏi có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến. Sau khi phỏng vấn 238 người đàn ông bị ung thư tiền liệt tuyến và 471 người không bị bệnh, các nhà khoa học nhận thấy những ai ăn hơn 9g/ngày các loại rau từ nhóm hành tỏi thì nguy cơ mắc căn bệnh ung thư trên thấp hơn 50% so với những người ăn ít hơn. Riêng những ai ăn khoảng 2,9g hoặc hơn hành ascalon/ngày thì nguy cơ bị ung thư giảm 70%. Nguy cơ này giảm 53% nếu tiêu thụ một lượng tỏi tương tự.

LY.DS. BÀNG CẨM

9 loại cây giải độc khi bị rắn cắn, côn trùng đốt, ngộ độc thực phẩm…

1. Bòn bọt chữa độc rắn:

Bòn bọt còn gọi là cây bọt ếch, chè bọt, cây sóc…, tên khoa học là Glochidion eriocarpum Champ. Loại cây này được dùng để chữa rắn độc cắn, bằng cách lấy lá tươi giã nát, vắt lấy nước uống, bã đắp lên vết thương. Nếu bị dị ứng sơn cũng có thể lấy cả cành lá sắc lấy nước để rửa. Ngoài ra, bòn bọt còn được dùng để chữa tiêu chảy, lỵ trực khuẩn, phù thũng…

Cây Bòn bọt

2. Cam thảo đất chữa ngộ độc:

Dược liệu này còn được gọi là cam thảo nam, thổ cam thảo, tên khoa học là Scoparia dulcis L. Cam thảo đất có vị ngọt, tính mát, có công dụng giải nhiệt, chữa cảm sốt, say sắn, ngộ độc nấm bằng cách dùng 100g cây tươi rửa sạch, sắc lấy nước uống.

Cam thảo đất

3. Cây mua giải độc sắn:

Có tên khoa học là Melastoma D. Don, cây mua thường dùng để giải ngộ độc sắn bằng cách lấy 60-100 g lá hoặc rễ sắc uống. Ở nước ta có nhiều loại mua, người ta còn dùng cây mua lùn để giải độc sắn và chữa rắn độc cắn: lấy rễ giã nát, hãm với nước sôi hoặc sắc lấy nước uống.

Cây mua

4. Đậu xanh giải độc mọi trường hợp:

Tên khoa học là Vigna radiata (L) Wilezek, đậu xanh có vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thử lợi tiểu. Để giải độc, lấy 100g đậu xanh rửa sạch, nghiền sống, chế nhiều nước rồi uống, hoặc nhai luôn 1-2 nắm hạt sống rồi uống nhiều nước. Có thể lấy cả hạt ninh nhừ ăn, nếu chỉ có vỏ hạt thì sắc lấy nước uống. Cũng có thể dùng bột đậu xanh khuấy với nước nguội để uống. Hạt đậu xanh dùng giải độc trong mọi trường hợp, đặc biệt khi say sắn và ngộ độc nấm.

Đậu xanh

5. Kim ngân chữa độc lá ngón, nấm độc:

Tên khoa học là Lonicera japonica Thunb, cành lá và hoa kim ngân thường được dùng để chữa bệnh và giải độc, bằng cách mỗi ngày dùng 12 g hoa (kim ngân hoa) hay 20 g cành lá (kim ngân đằng) sắc lấy nước uống. Nước sắc kim ngân được dùng để giải độc do cà độc dược, cỏ sữa lá to, hạt dây cam thảo, lá ngón và nấm độc. Có thể dùng lá kim ngân tươi nhai kỹ rồi nuốt lấy nước. Kim ngân thường dùng riêng hoặc kết hợp với bồ công anh, sài đất.

Kim ngân

6. Ổi chữa độc gây tiêu chảy:

Tên khoa học là Psidium guajava L., quả ổi xanh, lá non hoặc búp ổi đường dùng làm thuốc. Theo kinh nghiệm dân gian, ăn quả xanh có thể giải độc ba đậu và các chất độc gây tiêu chảy.

Ổi

7. Rau má giải độc gan:

Tên khoa học là Centella asiatica (L.) Urb, rau má có vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt giải độc, làm mát gan và lợi tiểu. Để giải độc lá ngón hoặc say sắn, lấy cả cây rau má rửa sạch, giã nát, hòa với nước ấm rồi gạn lấy nước uống. Có thể dùng chữa ngộ độc nấm với cách làm tương tự, hoặc lấy rau má 160g đem sắc với 80g đường phèn, lấy nước uống, hoặc lấy 160g rau má và 400g củ cải tươi, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước uống.

Rau má

8. Rau mùi chữa nhiễm độc thức ăn:

Tên khoa học là Coriandrum sativum L., rau mùi thường dùng để chữa nhiễm độc thức ăn, bằng cách lấy khoảng 120g hạt mùi đem sắc với 2 bát nước lấy 1 bát, chia uống 2 lần trong ngày.

Rau mùi

9. Sắn dây chữa rắn độc cắn:

Còn gọi là cát căn, lá, hoa, rễ củ và bột sắn dây thường được dùng để giải độc bằng cách: lấy củ sắn dây tươi rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống hoặc củ khô (cát căn) sắc lấy nước uống. Hoặc dùng bột sắn dây hòa với nước rồi pha thêm đường uống. Hay lá sắn dây tươi rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống để chữa rắn độc cắn, bã đắp lên trên vị trí tổn thương.

Sắn dây

BS. Hoàng Xuân Đại

Rau cải bắp

Bắp cải hay cải bắp (Brassica oleracea nhóm Capitata) là một loại rau chủ lực trong họ Cải (còn gọi là họ Thập tự - Brassicaceae/Cruciferae), phát sinh từ vùng Địa Trung Hải. Nó là cây thân thảo, sống hai năm, và là một thực vật có hoa thuộc nhóm hai lá mầm với các lá tạo thành một cụm đặc hình gần như hình cầu đặc trưng.

Cải bắp được trồng trong vụ đông xuân ở các tỉnh phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Cải bắp thuộc nhóm rau có nguồn gốc ôn đới, nhiệt độ xuân hóa (nhiệt độ cần thiết để phân hóa mầm hoa) là 1 - 100C trong khoảng 15 - 30 ngày tùy thời gian sinh trưởng của giống.

Thành phần hóa học trong 100g chứa: lipid 0,8g, chất xơ 1,7g, dẫn xuất phi protein 4,9g, khoáng toàn phần 2,4g.

Về mặt dinh dưỡng, trong 100g cải bắp cung cấp cho cơ thể 50calo, nhiều muối khoáng, nhất là canxi, photpho, kali, sắt. Lượng vitamin C trong bắp cải chỉ thua cà chua, nhưng nhiều gấp 4,5 lần so với cà rốt, 3,6 lần so với khoai tây, hành tây.

Trong bắp cải, vitamin C kết hợp sẵn với vitamin P thành phức hợp PC và vitamin C được vitamin P bảo vệ khỏi bị oxy hóa để cho giá trị sinh học cao hơn thuốc vitamin C.

Những lợi ích

Nước cải bắp giúp khỏe dạ dày: vào năm 1948, các nhà khoa học đã phát hiện trong cải bắp có một chất chống loét gọi là vitamin U, giúp chữa loét dạ dày - tá tràng, viêm dạ dày - ruột, viêm đại tràng. Do vitamin U bị hủy ở nhiệt độ cao, nên dùng nước ép cải bắp tươi nếu muốn phát huy tác dụng này. Một ký lá cải bắp tươi sẽ cho 500 - 700ml nước ép, nếu giã tươi lấy nước cốt thì được 350 - 500ml. Dùng nước ép hoặc nước cốt cải bắp uống trong ngày với liều 1.000ml, chia làm 4 - 5 lần (có thể pha thêm đường hay muối, dùng nóng hay lạnh). Điều trị liền trong vòng 2 tháng, sẽ có kết quả rõ rệt đối với bệnh nhân có ổ loét chưa sâu lắm. Các loại cải khác như cải rổ (var.viridis L), cải bẹ dúng (var.sabauda.), súp lơ, cải hoa (var.botrytis L)… đều có tác dụngchữa bệnh như cải bắp.

Qua nội soi, các chuyên gia Ấn Độ đã chứng minh được sự hình thành một lớp màng nhầy có 2 chức năng vừa che chở, vừa tái tạo niêm mạc dạ dày dưới tác dụng của bắp cải. Ngoài ra, họ đã xác định được một hoạt chất có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày. Hoạt chất này chỉ có trong bắp cải tươi và hàm lượng cao khi còn tươi xanh và thu hái vào mùa xuân hay mùa hè, hầu như mất tác dụng vào mùa đông...

Theo kinh nghiệm dân gian, tác dụng nước ép bắp cải sẽ được gia tăng gấp bội nếu dùng hòa chung với nước ép rau cần tây. Trong nhân dân thường muối dưa bắp cải với rau cần ta cũng là một kinh nghiệm tốt.

Tác dụng của bắp cải đối với bệnh ung thư: một số công trình nghiên cứu của Viện đại học New York cho thấy ăn bắp cải thường xuyên giúp ít bị ung thư đường tiêu hóa. Tất cả các loại cải đều có tác dụng phòng chống ung thư, nhưng rõ rệt nhất được xác định là bắp cải. Nếu ăn 1 tuần 1 lần bắp cải giảm 70% xác suất bị ung thư ruột. Nếu 2 tuần 1 lần sẽ giảm được 40%. Công trình nghiên cứu tác dụng chống ung thư của bắp cải do GS. Wattemberg ở Viện đại học Minnesota cũng cho thấy: Chiết xuất từ bắp cải được một nhóm hoạt chất là indol. Qua thực nghiệm trên súc vật cho thấy, chất này làm giảm tỉ lệ ung thư vú chỉ còn 1,5 so với lô đối chứng. Liều rất thấp cũng có thể bảo vệ 1/2 so với súc vật thí nghiệm.

Thú vị hơn là loại bắp cải tím (sở dĩ có màu tím là vì trong nó chứa hàm lượng polyphenol anthocyanin cao; chất anthocyanin có tính kháng viêm nên giúp cơ thể tránh được hiện tượng lão hóa sớm), nên giúp da đàn hồi, mềm mại do đó ăn bắp cải tím chứa hàm lượng chất chống oxy hóa cao giúp đem lại làn da đẹp, đàn hồi và mềm mại. Bắp cải tím còn là nguồn phong phú vitamin C và vitamin K.

Một số bài thuốc dùng cải bắp

Giảm đau nhức do thấp khớp, thống phong, đau dây thần kinh tọa: ép cải bắp lấy nước uống, còn bã đắp vào chỗ đau nhức.

Chữa đái tháo đường: cải bắp có tác dụng làm giảm quá trình đồng hóa glucid và giảm đường huyết. Dùng 100g hàng ngày giúp phòng và trị bệnh tiểu đường týp 2.

Kháng sinh: nước ép cải bắp có thể chữa viêm họng, viêm phế quản, khản tiếng, phòng chống nhiễm khuẩn, nhiễm nấm ngoài da. Đắp bắp cải ngoài da có thể chữa mụn nhọt và vết sâu bọ đốt.

Chữa đau khớp, nhức tay chân, nổi hạch: lấy lá bắp cải cán dập gân lá, hơ nóng rồi áp lên chỗ đau. Mỗi chỗ đau đắp 3 - 4 miếng lá cải bắp, bên ngoài dùng vải dày áp lên rồi cột lại.

Chữa ho nhiều đờm: dùng 80 - 100g cải bắp, nửa lít nước, sắc còn 1/3 cho thêm mật ong uống trong ngày kết hợp ăn bắp cải sống.

Cách làm nước ép bắp cải như sau: bóc từng lá bắp cải lấy cả lá xanh bên ngoài, rửa nhiều lần cho sạch, rọc đôi theo sống từng lá. Chần qua với nước sôi. Vớt ra để ráo nước. Cho vào cối sạch, giã nát, lấy vải màn hay gạc sạch lọc lấy nước. 1kg bắp cải có thể ép được khoảng 500ml nước.

Lưu ý: Với bắp cải, không dùng cho người tạng hàn, nếu muốn dùng phải phối hợp với gừng tươi. Cải bắp chứa một hàm lượng nhỏ Goitrin là chất có tác dụng chống oxy hóa nhưng chính nó lại có thể gây bướu cổ. Vì vậy, người bị rối loạn tuyến giáp hoặc bướu cổ không ăn bắp cải vì sẽ làm tuyến giáp hoặc bướu cổ phù to ra. Nếu cần chỉ ăn một lượng vừa phải, trước khi ăn nên cắt từng lá, ngâm rửa rồi thái nhỏ, để 10 - 15 phút rồi mới chế biến, khi ấy Goitrin sẽ bị phân hủy hết.

Những người suy thận nặng, phải chạy thận nhân tạo cũng không dùng bắp cải. Người táo bón, tiểu ít thì không ăn bắp cải sống hoặc dưa bắp cải muối mà phải nấu chín.

ăn bắp cải tím chứa hàm lượng chất chống oxy hóa cao giúp đem lại làn da đẹp, đàn hồi và mềm mại

Nếu ăn 1 tuần 1 lần bắp cải giảm 70% xác suất bị ung thư ruột

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Cây tề thái hạ sốt, cầm máu

Hỏi: Cây tề thái có ở nước ta không, nó chữa được bệnh gì? (Nguyễn Tiến Nam - Hà Nội) Trả lời: Cây tề thái còn gọi là tề, tề thái hoa, địa m...